Ở
Việt Nam, công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT được biệt
quan tâm, tạo điều kiện thuận từ phát triển hạ tầng cơ sở cho đến chính
sách trợ giúp đối tượng tham gia học nghề cũng như giáo viên dạy nghề.
Luật Dạy nghề năm 2006 đã dành toàn bộ Chương VII quy định dạy nghề cho
NKT, với mục tiêu giúp đối tượng có năng lực thực hành nghề phù hợp với
khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm, ổn
định đời sống. Đồng thời, Nhà nước cũng khẳng định, hỗ trợ về tài chính
và các chính sách ưu đãi khác đối với các cơ sở dạy nghề cho NKT nhằm
khuyến khích công tác dạy nghề cho NKT. Trong Bộ lụât Lao động, tại Điều
125 cũng nêu rõ: “Hàng năm, Nhà nước dành một khoản ngân sách để giúp
NKT phục hồi sức khoẻ, phục hồi chức năng lao động, học nghề và có chính
sách cho vay với lãi suất thấp để họ tự tạo việc làm, ổn định đời
sống”.
Số
cơ sở dạy nghề ở nước ta đã tăng lên cả về số lượng, quy mô và chất
lượng đào tạo, đồng thời công tác dạy nghề cho NKT từng bước được xã hội
hoá với sự tham gia ngày càng nhiều của khu vực tư nhân. Tính đến nay,
cả nước hiện có trên 256 cơ sở dạy nghề tham gia dạy nghề cho NKT, trong
đó có 55 cơ sở dạy nghề chuyên biệt. Cùng với đó, hệ thống quản lý Nhà
nước về dạy nghề được kiện toàn, các văn bản quy phạm pháp luật cũng đã
quy định, các cơ sở dạy nghề dành riêng cho NKT được ưu tiên cấp địa
điểm thuận lợi, hỗ trợ vốn, cấp kinh phí đào tạo, miễn giảm thuế, được
vay vốn với lãi suất ưu đãi. Đối với các cơ sở dạy nghề khác, khi nhận
NKT vào học nghề, nâng cao trình độ tay nghề được ưu tiên đầu tư, bảo
đảm định mức kinh phí đào tạo. Còn với bản thân NKT học nghề được xem
xét cấp học bổng và trợ cấp xã hội, được miễn, giảm học phí căn cứ vào
mức độ khuyết tật và suy giảm khả năng lao động.
Hằng
năm, ngân sách Nhà nước đã dành hàng trăm tỷ đồng cho công tác dạy nghề
cho NKT để đầu tư xây dựng cơ sở, hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn (năm 2007 là
156 tỷ đồng, năm 2008 là 165 tỷ đồng và năm 2009 là 183 tỷ đồng). Số
lượng NKT được học nghề ngày càng tăng lên, năm 2009 là 9.338 người và
năm 2010 là 4.359 người.
Song
song với các hoạt động dạy nghề là tìm việc làm cho NKT, một vấn đề có ý
nghĩa quan trọng, không những tạo ra thu nhập để đáp ứng nhu cầu bản
thân và gia đình của đối tượng mà còn giúp phục hồi chức năng, có cơ hội
giao tiếp với xã hội, hoà nhập cộng đồng và hơn hết là đảm bảo quyền
công dân của NKT. Trong những năm qua, Nhà nước cũng đã có nhiều biện
pháp xúc tiến việc làm cho NKT như ban hành và thực thi nhiều chính sách
ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lao động là người khuyết
tật, hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT, thành lập Quỹ Quốc gia về
việc làm. Đặc biệt, từ năm 2006, ngành Lao động- TBXH thường xuyên tổ
chức các hội chợ việc làm, trong đó có khu vực dành riêng cho NKT với sự
tham gia của nhiều doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề. Do vậy, người khuyết
tật có nhiều cơ hội việc làm hơn và số lượng có việc làm đã tăng lên
hàng năm. Theo thống kê, đến nay, cả nước có hơn 400 cơ sở sản xuất kinh
doanh của NKT và trên 15.000 lao động là người khuyết tật. Riêng Hội
Người mù quản lý 146 cơ sở, với khoảng 4.000 người. Quỹ Quốc gia về việc
làm đã giao cho Hội Người mù quản lý trên 31 tỷ đồng cho khoảng 13.000
hội viên vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm và
khoảng 65% số hộ có người khuyết tật được hưởng các chính sách hỗ trợ
phát triển sản xuất như miễn giảm thuế, hỗ trợ tín dụng ưu đãi, đất sản
xuất…
Bên
cạnh đó, có nhiều tổ chức, cá nhân đã có nhiều sáng kiến, nỗ lực tạo
việc làm cho NKT, như tổ chức VNAH (Hội Bảo trợ Người tàn tật Việt Nam),
USAID, BREC (Hội đồng Rải Băng Xanh) và đặc biệt là mạng lưới các doanh
nghiệp thúc đẩy việc làm hoà nhập cho NKT với hơn 100 đơn vị đại diện
cho cả ba miền. Các doanh nghiệp này đã và đang đi tiên phong trong việc
tư vấn và tuyển dụng người khuyết tật vào làm việc, trợ giúp hoà nhập,
hỗ trợ thông tin và kỹ thuật cho các doanh nghiệp về các vấn đề liên
quan tới người lao động. Tính đến cuối năm 2010, BREC đã dạy nghề và tạo
việc làm cho 990 NKT.
Còn những vấn đề đặt ra
Mặc
dù trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng quan tâm tới
công tác dạy nghề và tạo việc làm cho NKT song số lượng người được học
nghề còn quá ít, tỷ lệ tìm được việc làm sau đào tạo nghề còn rất thấp
và chủ yếu là tự tạo việc làm, số có thể tìm được việc làm trong các
doanh nghiệp lớn hầu như không đáng kể. Theo đánh giá, chỉ có khoảng
trên 12% tổng số NKT được học nghề. Trên thực tế, nhu cầu việc làm của
đối tượng là rất lớn và hiện nay mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ. Mặc
khác, phần lớn những người khuyết tật có việc làm không ổn định, làm các
công việc tạm thời, lao động chân tay, làm việc trong các tổ chức cơ sở
mang tính nhân đạo, từ thiện. Rất ít người tìm được việc làm ổn định
trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc các công việc đòi hỏi kỹ
năng, trình độ chuyên môn. Vì vậy, thu nhập của NKT cũng tương đối thấp,
không ổn định.
Nguyên
nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp chính quyền về dạy nghề và tạo
việc cho người khuyết tật còn chưa đầy đủ; hệ thống dạy nghề vừa yếu,
vừa thiếu, chưa đủ khả năng đáp ứng công tác dạy nghề cho đối tượng.
Thêm nữa, nội dung chương trình, ngành nghề và hình thức đào tạo cũng
chưa hợp lý, kết cấu quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa có
những giáo trình dành riêng cho NKT. Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT
còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực kỹ thuật,
sư phạm. Chưa có số liệu thống kê đánh giá, phân loại số NKT theo mức
độ, dạng tật, theo khả năng lao động để giúp cho công tác dạy nghề phù
hợp với khả năng học nghề, khả năng lao động, yêu cầu của nghề nghiệp
trong tương lai. Các ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với thị trường lao
động, chủ yếu đào tạo ngắn hạn, ở trình độ bậc thấp.
Mặt
bằng trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật của NKT thấp và hạn chế,
công thêm những rào cản xã hội như thái độ phân biệt, e ngại về chất
lượng lao động, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị không phù
hợp… cũng là yếu tố hạn chế cơ hội việc làm của NKT. Hầu hết các doanh
nghiệp chưa nhiệt tình khi nhận lao động là NKT vào làm việc với các lý
do như pháp luật lao động quy định thời gian làm việc của đối tượng
không quá 7 giờ/ngày, 42 giờ/tuần là không phù hợp với dây chuyền sản
xuất. Trên thực tế, xét theo giác độ bình đẳng về cơ hội, quy định về
thời gian làm việc này đã vô hình trung làm giảm cơ hội việc làm của NKT
vì ảnh hưởng đến quy trình và năng suất lao động, đặc biệt là những cơ
sở sản xuất theo phương thức dây chuyền, ca kíp.
Dịch
vụ hỗ trợ việc làm cho NKT tập trung chủ yếu ở khâu dạy nghề và giới
thiệu việc làm, trong khi khâu tư vấn nghề, hỗ trợ tại nơi làm việc,
tạo ra các điều chỉnh hợp lý tại nơi làm việc còn hạn chế. Các đơn vị
cung cấp dịch vụ liên quan đến việc làm và phục hồi khả năng lao động
cho NKT như các cơ sở dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm, đơn vị
phục hồi chức năng, doanh nghiệp… chưa tạo được sự kết nối, hợp tác chặt
chẽ do hiện nay nước ta vẫn chưa chính thức có chương trình phục hồi
chức năng lao động cho NKT. Ví dụ như, các công nhân bị tai nạn lao động
cần sự hỗ trợ phối hợp của bệnh viện, đơn vị giới thiệu việc làm, doanh
nghiệp, cơ sở dạy nghề… để giúp NKT phục hồi khả năng lao động, quay
trở lại công việc cũ hoặc chuyển đổi sang công việc mới phù hợp.